This is default featured slide 1 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.This theme is Bloggerized by Lasantha Bandara - Premiumbloggertemplates.com.

This is default featured slide 2 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.This theme is Bloggerized by Lasantha Bandara - Premiumbloggertemplates.com.

This is default featured slide 3 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.This theme is Bloggerized by Lasantha Bandara - Premiumbloggertemplates.com.

This is default featured slide 4 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.This theme is Bloggerized by Lasantha Bandara - Premiumbloggertemplates.com.

This is default featured slide 5 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.This theme is Bloggerized by Lasantha Bandara - Premiumbloggertemplates.com.

Monday, July 18, 2016

Sò Huyết Hạ Long

Sò Huyết Hạ Long
Quảng Ninh không chỉ nổi tiếng với vịnh Hạ Long mà còn nổi tiếng với rất nhiều loại hải sản. Một trong số đó có loài Sò Huyết ở Yên Hưng. Sò Huyết hay còn gọi là Sò Gạo. Chúng sống ở các bãi cát, bãi lầy ở biển.

 



Sò có vỏ cứng ruột màu đỏ hồng như máu ăn rất bổ dưỡng. Sò sống ở những vùng pha nước mặn và ngọt hay còn gọi là nước lợ là ngon nhất vì Sò sống ở vùng nước này nhanh lớn thịt ngọt, thơm, béo hơn các vùng nước khác có nhiều cách chế biến sò huyết như: Xào Sò với xả ớt, Sò nướng, Sò nấu cháo… nhưng để không mất giá trị dinh dưỡng của Sò thì phổ biến nhất là Sò được trần qua nước sôi( nhúng Sò). Để có được Sò trần ngon sạch trước tiên ta lấy bàn chải đánh sạch đất bên ngoài, sau đó cho Sò vào ngâm với nước ớt để Sò há miệng cho hết đất bám bên trong.

 

Công đoạn trần Sò rất quan trọng thể hiện sự  khéo léo và kinh nghiệm trong bước này, nếu Sò trần hay nhúng nước sôi quá lâu thì Sò sẽ há miệng ăn không ngon mất giá trị dinh dưỡng và thẩm mỹ. để trần Sò được ngon ta cho xả đập dập vào nồi, đun nước thật sôi, sau đó cho Sò vào( nước phải ngập hết sò) khi thấy có bọt khí lăn tăn nổi lên là được. Sau khi trần ta vớt Sò ra đĩa luôn. Món này mà uống cùng với bia thì không còn gì để nói.

Một số hình ảnh đẹp
Sò Huyết Hạ Long
Sò Huyết Hạ Long












Mắm nêm Bình Thuận

Mắm nêm Bình Thuận
Cái nôi của mắm nêm là miền Trung. Người miền Trung làm mắm nêm để dành ăn trong những ngày trái gió trở trời không đi chợ, ra đồng hay ra khơi được. Cách làm mắm nêm thoạt nghe rất đơn giản: cá cơm tươi mua về rửa sạch, phơi nắng cho ráo rồi trộn đều với muối, theo tỷ lệ ba cá một muối. Sau đó xếp cá vào lọ hay vại, đậy kín, để khoảng ba tháng là mắm chín, đem ra ăn được. Đơn giản vậy mà không dễ làm, vì tỷ lệ cá - muối rất quan trọng. Nhiều muối quá thì mắm mặn, không ngon, mà ít quá thì hư mắm. Thời gian ủ mắm cũng chỉ ước chừng, mắm có thể “chín” sớm hơn hoặc muộn hơn. Vì vậy, để làm được lọ mắm ngon, người làm cần phải dày kinh nghiệm.

 

 



Ở Bình Thuận, bên cạnh sản phẩm nước mắm truyền thống Phan Thiết, còn có nhiều sản phẩm dạng mắm khác như: mắm ruốc và đặc biệt là mắm nêm. Ai đã từng có dịp thưởng thức mắm nêm Phan Thiết, ắt hẳn sẽ nhớ mãi hương vị của nó.

 

Theo những người lâu năm trong nghề, quy trình làm mắm nêm đơn giản hơn nước mắm. Thường thì chỉ hai cá một muối, hoặc một lớp cá một lớp muối. Mặn lạt và ngon tùy người có kinh nghiệm và tay nghề. Để có một mẻ mắm ngon và đạt chất lượng, người thợ làm mắm phải biết cân bằng lượng cá và lượng muối sao cho phù hợp. Mắm nêm để dành ăn lâu thì muối mặn hơn. Xóc cá cho muối thấm vào cá được đều rồi đổ vào hủ, chai... Nếu là chai thì cần nút kín. Nếu là vò, hủ ngoài nắp đậy cần trét thêm một lớp vôi nữa (vôi ăn trầu) để vào nơi khô ráo, tránh ruồi, thằn lằn. Mắm nêm muối khoảng ba tháng thì “chín” dùng được. Mắm muối kỹ, đúng kỹ thuật, khi dỡ nắp vò, nút chai hũ đã có mùi thơm ngon, con mắm và nước có màu hồng nhạt, thấy muốn ăn ngay. Trái lại, nút không kỹ, không trét vôi kín nắp sẽ bị “hôi kháng”. Với cách làm mắm này, cá càng để lâu thì khi ăn sẽ càng ngon, càng đậm đà

                                                                                         

Những người làm mắm nêm chuyên nghiệp muốn có món mắm nêm ngon, thường nhận dạng qua lá mắm có màu ửng hồng. Tuy nhiên, để có được loại mắm nêm thơm ngon, đặc biệt, thông thường thì chỉ có cá nục, cá cơm là làm mắm ngon và đạt tiêu chuẩn nhất. Hiện nay ở Bình Thuận có rất nhiều hộ kinh doanh, sản xuất các loại mắm nêm và có một lượng khách hàng nhất định, vừa bán lẻ vừa bỏ mối sỉ cho nhiều bạn hàng ở khắp nơi.

 

Với quy mô một địa phương có truyền thống về sản xuất nước mắm, nhiều cơ sở sản xuất nước mắm ở Bình Thuận đã được Cục Sở hữu Trí tuệ đánh giá cao. Đây là một thuận lợi lớn để các sản phẩm dạng mắm ở Bình Thuận tiếp tục phát triển.

 

Mắm nêm có thể ăn với hầu hết các món bánh làm từ bột. Lạ miệng có món bánh ướt mắm nêm. Bánh ướt mua về gỡ ra từng lớp trải lên đĩa, hành lá xắt nhuyễn, chờ dầu sôi thì bỏ vào và tắt lửa. Cứ một lớp bánh thoa một lớp dầu hành. Mắm nêm loại nguyên chất pha thêm đường, chanh nêm nếm vừa ăn, cho thêm ớt tỏi bằm nhuyễn vào. Khi ăn cuốn bánh lại chấm mắm nêm. Món ăn đơn giản nhưng ăn một lần nhớ mãi

 

Cũng là bánh bột, nhưng công phu hơn là món bánh hỏi lòng heo mắm nêm. Lòng heo tùy thích lựa chọn tim, gan, lưỡi, phèo, bao tử và dĩ nhiên không thể thiếu huyết và ít thịt ba rọi. Rửa kỹ lòng heo, lưỡi nhớ cạo bỏ lớp bọc ngoài, bao tử cho chút giấm vào cạo cho hết nhớt và rửa sạch lại với muối. Bắc nồi nước lên, chờ sôi thả thịt vào luộc trước, vớt thịt ra mới thả lòng vào, luộc cho lòng vừa chín tới, đem bỏ vào thau nước đá để lòng giữ độ ngọt, giòn và trắng. Khi ăn mới xắt lát thịt và lòng, xếp lên đĩa. Bánh hỏi thoa dầu hành lên mặt. Vắt trái thơm lấy nước, pha vào mắm nêm, thêm đường, ớt, tỏi, chanh nêm nếm cho vừa khẩu vị. Món này ăn kèm với xà lách, khế, chuối chát, giá và rau thơm các loại.

 

Bánh tráng là món ăn phổ biến của người miền Trung, có thể dùng để thay cơm. Món bánh tráng mắm nêm cũng là một đặc sản miền Trung. Để bữa ăn thêm phong phú, có thể làm món bánh tráng cuốn thịt luộc chấm mắm nêm. Thịt có thể lựa ba rọi hay thịt đùi. Bắc nước đợi sôi, thả thịt vào, cho thêm ít hạt nêm và muối, vặn lửa vừa để miếng thịt có phần mỡ trong và giòn, ăn vào sẽ không có cảm giác quá béo. Mắm nêm pha đường, chanh, ớt, tỏi và bằm nhuyễn thơm trộn vào. Khi ăn nhúng ướt bánh tráng, cuốn với bún, thịt, rau sống và khế, chuối chát, chấm mắm nêm.

 

Nếu ngán thịt, có thể thay món trên bằng món cá lóc hấp cuốn bánh tráng chấm mắm nêm. Cá lóc rửa sạch, ướp một ít muối và bột ngọt để thấm rồi đem hấp. Hành lá xắt nhuyễn phi vừa chín. Đậu phộng rang, bóc vỏ và đập nhỏ. Dọn cá ra đĩa, rưới hành lá đã phi và đậu phộng lên. Cuốn bánh tráng, bún, rau sống và chấm mắm nêm.

 

Thực phẩm ăn với mắm nêm khá phong phú. Mắm nêm, món ăn địa phương có nét đặc thù độc đáo. Trong các thức ăn tuy đơn sơ giản dị, nhưng khách đã một lần dùng qua chắc chắn nhớ mãi “mắm nêm”. Mắm nêm là sản phẩm dễ thực hiện trong gia đình, đồng thời là món ăn dự trữ trong mùa đông tháng giá, nhất là đồng bào ven biển miền Trung và miền cao. Nhược điểm của mắm nêm là ăn xong, miệng rất tanh, và uống nước cũng đã, cho nên ăn xong ta lấy chanh chà miệng hoặc đánh răng sau đó.

Một số hình ảnh đẹp
Mắm nêm Bình Thuận
Mắm nêm Bình Thuận
Mắm nêm Bình Thuận












Sunday, July 17, 2016

Chả cá Quy Nhơn

Chả cá Quy Nhơn
Chả cá được làm từ những con cá thu mập mạp, bóng bẩy, thịt ngọt và đầy đủ dưỡng chất. Bí quyết của những người làm chả ngon là thêm vào hỗn hợp thịt cá một ít hành lá, thì là bằm nhuyễn để tạo nên vị thơm cho chả.

 



Công đoạn từ quết thịt đến đánh thành bánh chả hết sức công phu, đòi hỏi người thợ phải khéo léo, vừa nhanh vừa đều tay để miếng bánh chả láng mịn, tròn dày vừa phải. Bánh chả làm xong được chiên hoặc hấp tùy theo sở thích. 

Chả chiên dai dai, giòn giòn, dậy mùi thơm từ thịt cá, vị cay nồng của tiêu sọ, kích thích vị giác của bất kỳ thực khách nào. Chả hấp thanh đạm hơn, ít dầu mỡ, lại có thêm lớp trứng tráng mỏng, vàng ươm trên bề mặt. Cắn miếng chả chiên vừa mịn,  vừa mềm, vừa dai nhưng không quá béo.

Chấm miếng chả cá hấp nóng hổi vào tương ớt, kèm theo vài lá rau thơm, vị thơm, vị ngọt của cá như tan trên đầu lưỡi. Người ăn sẽ ngỡ ngàng nhận ra, đằng sau sự khiêm nhường và bình lặng ấy là cái nồng nàn của vị biển.


Chả cá ngon là nguyên liệu cho món bún chả cá nổi tiếng đất Quy Nhơn. Đó là sự kết hợp hài hòa giữa chả cá, sợi bún, nước lèo và nước chấm. Sợi bún nhỏ đánh lừa cảm giác rằng bạn ăn chưa nhiều và muốn ăn thêm nữa, nước lèo được nấu từ xương và đầu cá thu, trong veo, ngọt tự nhiên, không tanh, có mùi thơm của củ hành tím đã nướng qua lửa và vị thanh thanh của đường phèn. 

Chả cá ngon đã đành, lại thêm nước lèo ngọt đậm hầm từ xương cá với măng le, và nấm rơm; đến cả dĩa rau sống được chăm chút, một sự hòa trộn màu sắc rất bắt mắt bởi màu xanh non của xà lách, màu trắng nõn những cọng bắp chuối, xanh đậm của rau răm, húng, quế, rau ngò, tim tím của tía tô tim tím, trắng ngà viền tím của bắp chuối xắt, màu xanh ngọc của cọng rau muống được chẻ mỏng và cả chút ớt tương đỏ... khiến món bún nhìn đã thấy hấp dẫn không thể cưỡng. 

Một số hình ảnh đẹp
Chả cá Quy Nhơn












Mèn mén Bắc Kạn

Mèn mén Bắc Kạn
Mèn mén - món ăn truyền thống của người Mông: Mỗi dân tộc đều có những món ăn đặc sắc, mang đậm nét truyền thống của dân tộc mình. Khi nhắc tới những đặc sản truyền thống của đồng bào dân tộc Mông, không thể không kể tới món “Mèn mén”. 



Đồng bào dân tộc Mông là một trong những dân tộc thiểu số sống ở vùng núi cao vì thế cây ngô là cây lương thực chính. Trước đây, khi cuộc sống còn nhiều khó khăn Mèn mén là món ăn chính trong bữa ăn hàng ngày của người Mông. Mèn mén được làm từ hạt ngô tẻ. Món Mèn mén đòi hỏi tốn nhiều thời gian để thực hiện với các công đoạn: Bóc vỏ, tách hạt ra khỏi lõi ngô, xay hạt ngô thành bột và sàng bỏ bớt vỏ. Sau khi có bột ngô vừa ý, người làm trộn bột ngô với nước rồi đảo để bột ngô tơi ra, sau đó đổ vào chõ và cho vừa nước đủ để đồ; khi bắc chõ khỏi bếp thì đổ bột ngô ra mẹt, dùng thìa gỗ đảo đi, đảo lại cho bột ngô tơi ra. Để có được món Mèn mén, người làm phải đồ bột ngô hai lần trên chõ gỗ. 


Mèn mén khi đã chín có vị thơm, dẻo, rất đậm đà. Ăn mèn mén bao giờ cũng kèm thêm một bát canh. Người Mông thường ăn món này với canh bí để tăng thêm phần hấp dẫn cho món ăn. 


Ngày nay, khi cuộc sống của người Mông đã đầy đủ hơn, món Mèn mén đã không còn là món ăn chính trong bữa ăn hàng ngày nhưng mỗi dịp lễ tết, hội hè… vẫn không thể thiếu món ăn truyền thống Mèn mén.

 

Một số hình ảnh đẹp
Mèn mén Bắc Kạn












Lẩu cá linh bông điên điển

Lẩu cá linh bông điên điển
Miền tây bước vào mùa nước nổi khoảng từ tháng 9 đến tháng 11 hàng năm. Đây cũng là giai đoạn xuất hiện nhiều cá linh tươi ngon nhất. Cũng vào mùa này, loại bông điên điển đua nhau nở rộ khắp mé sông. Có lẽ vì vậy mà người miền Tây đã kết hợp hai món này lại với nhau để tạo nên món lẩu cá linh ngon nức nở.



Cá linh tươi được làm sạch ướp gia vị đậm đà, cho nước dừa vào nồi lẩu để nấu, dầm chút me lấy vị chua rồi biến hóa nêm nếm cho vừa ăn. Trên mặt lẩu, cũng cho thêm tỏi phi và rau ngò gai. Cá linh không cho vào nước lẩu ngay từ đầu vì cá vốn nhỏ và mau chín, nên chỉ khi nào mọi người đã sẵn sàng dùng bữa mới trút cá linh vô nồi và cho thêm bông điên điển vào. Món lẩu cá linh nên dùng kèm với bún hoặc cơm nóng. 
Một số hình ảnh đẹp
Lẩu cá linh bông điên điển












Friday, July 15, 2016

Đậu Rùa Vĩnh Phúc

Đậu Rùa Vĩnh Phúc
Nếu có dịp về thôn Trung, xã Tuân Chính, huyện Vĩnh Tường (Vĩnh Phúc), bạn sẽ được chủ nhà nồng hậu thết đãi món ăn đặc sản của vùng quê này, món đậu Rùa.

Sao lại gọi là đậu Rùa? Chắc bạn sẽ ngạc nhiên: Món đậu làm từ thịt rùa hay có hình… con rùa? Không, đậu Rùa chỉ đơn giản được gọi theo tên của địa phương làm ra nó - xóm Rùa. Bây giờ dù tên địa danh đã đổi khác nhưng người ta vẫn quen gọi với cái tên đậu Rùa - như một “thương hiệu” quen thuộc.

 



Ở xóm Rùa có nhiều gia đình năm, sáu đời gắn bó với nghề làm đậu. Nhiều cụ cao tuổi trong xóm chẳng thể nhớ nổi nghề làm đậu có từ bao giờ, chỉ biết khi lớn lên đã thấy cha mẹ làm, rồi cứ này qua đời khác truyền nghề cho nhau mà làm.

 

Cách làm đậu Rùa cũng tương tự cách làm đậu phụ của nhiều nơi, khác chăng là cách ép khuôn đặt vải gói đậu. Người xóm Rùa làm đậu bao giờ cũng chọn loại đỗ tương hảo hạng, hạt trắng, tròn mẩy đem ngâm nước. Thời gian ngâm đỗ phải được cân nhắc cẩn thận, trời nóng chỉ ngâm 5-6 giờ nhưng nếu trời lạnh có khi phải ngâm 8-9 giờ. Đỗ nở căng hết ra thì đem xay rồi đổ nước đậu đã xay vào túi lọc cho sạch bã, chỉ lấy phần nước.

 

Phần nước này sẽ được đun trên bếp than, khi sôi phải nhấc nhanh nếu không nước đậu sẽ trào hết ra ngoài và đậu khi làm xong dễ có mùi khê. Khi nước đậu còn nóng, phải thật nhanh tay hòa nước giống (loại nước được lên men chua từ phần nước đậu đã vớt hết cái từ hôm trước) vào, khua nhẹ tay tới khi thấy có mảng cái nổi lên thì dừng. Sau đó đem phần hỗn hợp này đổ vào khuôn bên trên đã rải một miếng vải sạch nhỏ rồi gói lại.

 

Cứ làm như thế tới khi đầy khuôn gỗ thì dùng vật nặng ép lên trên cho ráo nước, nhấc ra là xong.

 

Đậu Rùa thường có đậu trắng và đậu nướng. Sau khi gỡ đậu ra khỏi khuôn ép là đã có món đậu Rùa trắng ăn mát mà vẫn thấy vị béo bùi của đậu. Với đậu Rùa nướng sau khi ép xong sẽ được đặt lên trên than hồng, nhanh tay lật đậu để đậu có màu vàng đều và không bị cháy. Đậu khi nướng xong sẽ rắn hơn, dậy mùi thơm của đỗ tương rang, mới nhìn thôi đã thấy ngon.

 

Dù là trắng hay nướng, đậu Rùa bao giờ cũng chỉ lớn hơn bao diêm một chút. Đặc biệt khi ép xong người xóm Rùa không bao giờ thả đậu vào nước lạnh mà cứ thế đem đi bán nên miếng đậu không bị nhão vẫn còn nguyên hơi ấm tới tận chợ. Có lẽ thế mà đậu xóm Rùa làm bao giờ cũng đắt hàng hơn đậu nơi khác.

 

Trước đây đậu Rùa chỉ bán ở chợ Táo đầu làng, nhưng dần dà đã theo chân các bà các chị ra các chợ xa hơn, tên đậu Rùa được nhiều nơi biết tới và đã trở thành món ăn quen thuộc của nhiều gia đình. Người xóm Rùa đi xa vì thế lâu lâu thèm nếm vị mát, bùi của đậu Rùa cho vơi nỗi nhớ mong quê nhà.

 

Đậu phụ nói chung cũng như đậu Rùa nói riêng có thành phần dinh dưỡng, trong đó chủ yếu là protein. 100g đậu phụ hàm lượng protein chiếm hơn 34%, ngoài ra còn chứa 8 loại axit amin, khoáng chất, canxi rất có lợi cho sức khỏe con người.

 

Theo quan niệm của y học cổ truyền, đậu phụ vị ngọt, tính mát, vào 3 kinh tỳ, vị và đại tràng, có công dụng ích khí khoan trung, kiện tỳ lợi thấp, sinh tân nhuận táo, thanh nhiệt giải độc và kháng nham. Do vậy, ngoài tác dụng là thực phẩm ra, đậu phụ còn có tác dụng làm thuốc hỗ trợ cho việc phòng và trị bệnh rất hiệu quả. Nếu chế biến đậu chung với nấm rơm, giá đỗ, mộc nhĩ.... sẽ là những món ăn ngon miệng và bổ dưỡng.

 

Đậu phụ nói chung cũng như đậu Rùa nói riêng có thành phần dinh dưỡng, trong đó chủ yếu là protein. 100g đậu phụ hàm lượng protein chiếm hơn 34%, ngoài ra còn chứa 8 loại axit amin, khoáng chất, canxi rất có lợi cho sức khỏe con người.

 

Theo quan niệm của y học cổ truyền, đậu phụ vị ngọt, tính mát, vào 3 kinh tỳ, vị và đại tràng, có công dụng ích khí khoan trung, kiện tỳ lợi thấp, sinh tân nhuận táo, thanh nhiệt giải độc và kháng nham. Do vậy, ngoài tác dụng là thực phẩm ra, đậu phụ còn có tác dụng làm thuốc hỗ trợ cho việc phòng và trị bệnh rất hiệu quả. Nếu chế biến đậu chung với nấm rơm, giá đỗ, mộc nhĩ.... sẽ là những món ăn ngon miệng và bổ dưỡng.

Một số hình ảnh đẹp
Đậu Rùa Vĩnh Phúc












Mắc khén Yên Bái

Mắc khén Yên Bái
Mắc khén đứng đầu trong các loại gia vị của đồng bào dân tộc miền núi. Có người gọi Mắc khén là hạt tiêu rừng và khiến ta dễ liên tưởng đến cây hồ tiêu dại mọc trong rừng nhưng không phải. Mắc có nghĩa là quả, còn Khén là một loại cây thân gỗ lớn mọc trong rừng đại ngàn.

 



Cây Mắc khén là loại cây dại thuộc họ hồi, có tinh dầu và hương thơm, trở thành huyền thoại và làm nên loại gia vị đậm đà không thể thiếu trong bữa ăn đồng bào miền Tây Bắc. Cây Khén ra hoa vào dịp cuối xuân và đậu thành những chùm quả nhỏ như những chùm hạt rau mùi già. Cuối hè, người ta thu hái Mắc khén bằng cách leo lên cây hái hay dùng câu liêm kéo những cành nhỏ có quả rơi xuống và buộc lại thành chùm đem phơi nắng cho khô hoặc treo lên gác bếp dùng dần. Khi dùng Mắc Khén, người ta bứt một nắm quả cho vào chiếc bát con, chọn lấy một viên than củi đang cháy đượm nhất bỏ vào bát và lắc đều tay để nướng mắc khén. Khi thấy mùi thơm ngào ngạt bay ra thì gắp than ra, khẽ thổi cho bay hết tàn than rồi dùng chuôi dao giã nhỏ hạt Mắc khén thành bột để chế biến đồ chấm hay làm gia vị cho các món ăn.

 

Thời xa xưa, khi những cánh rừng đại ngàn còn che chở bản làng, khi thú rừng rong chơi và những người thợ săn vẫn đêm đêm lặn lội theo dấu con mồi, thì Mắc khén  nhất quyết không thể thiếu trong túi đồ thợ săn. Đồng bào Thái đen cho rằng, con thú sẽ được Thần rừng cho sống lại sau khi chết. Bởi vậy, mỗi khi bắn được con mồi, họ không bao giờ lấy bộ lòng. Xả thịt con mồi ngay giữa rừng, thợ săn sẽ đặt lại toàn bộ tim, gan, ruột của nó lên tảng đá và khấn với đại ý là : “Thưa Thần rừng, hôm nay tôi mượn một con vật của Thần. Tôi đã để lại bộ lòng, xin Thần cho nó cái vỏ khác để nó lại được chạy nhảy…”. Bài khấn xong là lúc những người đi săn có quyền thưởng thức phần còn lại của con thú. Và tục lệ bắt buộc phải ăn hết con mồi tại chỗ đã khiến việc sử dụng Mắc khén xát vào bên trong, bên ngoài con vật trước khi nướng trở thành thông dụng.

 

Mắc, theo tiếng Thái, có nghĩa là quả. Nhưng còn Khén thì không hề có chữ gì đồng nghĩa hay cả trong ngôn ngữ bản địa. Bởi vậy Mắc khén mãi mãi sẽ là một tên riêng, tự nhiên tồn tại như chính bản thân núi rừng hoang dã, bí hiểm mà cũng quá đổi quen thuộc với con người. Thực tế Mắc khén là một loài cây dại thuộc họ hồi, có tinh dầu, khi đơm trái sẽ kết thành những chùm quả nhỏ li ti, tỏa hương thơm dịu. Đồng bào Tây bắc chỉ việc lên sườn núi, tìm những cành Mắc khén chín về phơi khô rồi xoa cho quả rời cành.

 

Hầu như không có bữa ăn nào quan trọng của người Thái lại thiếu được Mắc khén, giống như một dạng muối vừng với người Kinh. Quả Mắc khén sau khi thu về, bắc chảo rang nóng. Tiếp đó, đưa vào giã thành bột mịn. Tuy nhiên để chế ra được hương vị thơm phức, chuyên dùng ăn với xôi nếp nương, còn phải qua nhiều công đoạn khác. Đó là dùng ớt khô bỏ hạt nướng giòn, muối rang, rau mùi tầu xắt nhỏ rang khô, tất cả đều giã thành bột mịn. Sau khi trộn đều hỗn hợp trên thì tạo thành Mắc khén, một thứ bột mùi thơm hăng hắc nhưng lại dịu như vị ô mai và phảng phất chất núi rừng, thơm cay nồng nàn như hương hồi, quế.

 

Mắc khén thông dụng nhất dùng để chấm xôi nếp nương, thu hoạch từ cánh đồng Tú Lệ, dưới chân đèo Khau Phạ, thì chắc chắn không có hương vị nào sánh bằng. Loại gia vị này còn dùng để tẩm ướp, mang lại cho các món ăn của người Thái những hương vị đặc biệt mà không đâu sánh bằng.

 

Mắc khén là một trong những loại gia vị độc đáo mà núi rừng Tây Bắc đã ban tặng người dân nơi đây, góp phần làm cho ẩm thực Việt Nam thêm phần phong phú. Ai đã được từng thưởng thức những món ăn chế biến từ gia vị này chắc chắn sẽ không thể quên được hương vị đặc trưng của nó mà không phải ở đâu cũng tìm thấy được.

Một số hình ảnh đẹp
Mắc khén Yên Bái
Mắc khén Yên Bái